Ca dao về Lịch sử

Tục ngữ Yêu – Ghét
Tục ngữ Yêu – Ghét

Ca dao về Lịch sử

Tuyển tập các câu Ca dao về Lịch sử đất nước hay nhất, được ông cha ta đúc kết, truyền lại cho các thế hệ sau học tập và noi theo.




Phần 1

Nhâm Ngọc thì có sao đuôi,
Đến năm Quý Mùi, giặc liền phá ra.
Nhà vua thân với Lang Sa.
Để tây ăn cướp trứng gà của dân.
Tiếng đồn Tú Đỉnh,
Coi tân tỉnh sông Con,
Vì nghe vua Đồng Khánh lên non mất đầu.

Trời ơi! Trông xuống mà coi,
Nước Nam cơ khổ, “con trời” hai ông.
Hàm Nghi chính thực vua trung,
Còn như Đồng Khánh là ông vua xằng.

Chiều chiều trước bên Vân Lâu.
Ai ngồi ai câu,
Ai sầu ai thảm,
Ai thương ai cảm.
Ai nhớ ai trông.
Thuyền ai thấp thoáng bên sông,
Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.

Gò Công anh dũng tuyệt vời
Ông Trương “đám lá tối trời” đánh Tây.

Đường đi chín xã sông con,
Hỏi thăm ông Hường Hiệu hãy còn hay không?
Ngõ vô Linh Động mây mờ.
Nhà ông nguyên soái dựng cờ đánh Tây.
Sông Côn khi cạn khi đầy,
Khí thiêng đất nước, nơi này vẫn thiêng.

Nhớ ai nhớ mãi nhớ hoài,
Nhớ người tráng sĩ gươm mài dưới trăng.

Sông Lam một dải sông sờ,
Nhớ người quân tử bơ vơ nổi chìm.




Vườn ai trồng trúc, trồng tre,
Ở giữa trồng chè, hai bên đào ao.
Ấy nhà một đấng anh hào,
Họ Phan, làng Thái, đồng bào kính yêu.

Chiều chiều én liệng truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành.
Trên trời có ông sao Tua.
Ba làng Trà Lũ có vua Ba vành.
Có chàng Công Tráng họ Đinh,
Dựng lũy Ba Đình chống đánh giặc Tây.
Cơ mưu dũng lược ai tày,
Chẳng quản đêm ngày vì nước lo toan.
Dù cho vận nước chẳng còn.
Danh nghĩa vẹn toàn, muôn thuở không phải.

Nguyễn ra rồi Nguyễn lại về,
Chúa Trịnh mất nước, vua Lê khó còn.
Đầu cha lấy làm chân con,
Mười bốn năm tròn, hết số thì thôi.
Anh đi theo chú Tây Sơn,
Em về cày cuốc mà thương mẹ già.




Phần 2

Nguyễn đi rồi nguyễn lại về,
Chúa Trịnh mất nước, vua Lê hãy còn.

Lê còn thì Trịnh cũng còn,
Lê mà sụp đổ, Trịnh không vẹn tuyền.

Cơm ăn mỗi bữa một lưng,
Bao giờ gánh đá ông Đăng cho rồi?
Cơm ăn mỗi bữa một vơi,
Bao giờ gánh đá cho rồi ông Đãng?
Làng Vạc ăn cỗ ông Nghè,
Làng Vận, làng Chè kéo đá ông Đăng.

Đục cùn, thì giữ lấy Tông,
Đục long, Cán gẫy còn mong nỗi gì?

Trăm quan có mắt như mờ,
Để cho Huy quận vào sờ chính cung.

Trên trời có ông sao Tua,
Ở dưới hạ giới có vui trị vì.
Nghe rằng thất đức thất uy,
Cho nên giặc nổi như ri ngoài đồng.
Giặc nổi tỉnh Bắc tỉnh Đông,
Còn các tỉnh nhỏ, cũng không yên rồi.
Đồn rằng mấy tỉnh đường ngoài,
Nó bắt theo đạo rụng rời tay chân.




Nay mừng đời trị trùng hưng,
Giáo văn rộng mở mặt rồng trị an.
Đất thiêng khí thụy Lam Sơn,
Trời sinh thánh Chúa long nhan khác thường
Tiền là tiền nhật đăng quang
Hưng là hưng phục Lê Hoàng nghiệp xưa.
Hội lành cá nước duyên ưa,
Chúa ông kẻ cả Trời đà giáng sinh
Kỷ cương là chính triều đình,
Nội hiến ngoại hình thêm rạng qui mô.

Lạy trời cho cả gió lên,
Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành.

Đời vua Thái Tổ – Thái Tông,
Con dắt con bế con bồng con mang.
Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn.
Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh.

Con ơi nhớ lấy lời cha,
Gió to sóng cả đừng qua sông Rừng.





Phần 3

Sa Nam, trên chợ dưới đò,
Nơi đây Hắc Đế kéo cờ dựng binh,
Bạch Đằng giang là sông cửa ải.
Tổng Hà Nam là bãi chiến trường.
Sâu nhất là sông Bạch Đằng,
Ba lần giặc đến ba lần giặc tan.

Có bà Triệu Tướng,
Vâng mệnh trời ra,
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước,
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót bà Vương.

Cổ Loa thành ốc khác thường,
Trải bao năm tháng nẻo đường còn đây.




Ru con, con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành con voi.
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.
Ai về Hậu Lộc Phú Điền
Nhớ đây bà Triệu trận tiền xung phong.
Ai về đến huyện Đông Anh,
Ghé xem phong cảnh Loa Thành Thục Vương.

Một xin rửa sạch nước nhà,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sở công linh này.

Nhớ xưa đương buổi triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa.
Trời thương Bách Việt sơn hà,
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài.
Lên ba đang tuổi anh hài,
Roi vung ngựa sắt ra oai trận tiền.
Một phen khói lửa dẹp yên,
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.




Miếu đền còn dấu cố vên,
Sử xanh bia đá tiếng truyền tự xưa
Ức niên hương hỏa phụng thờ,
Đời đời khang thái, ơn đời Hùng Long.

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương,
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung.
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một thành Vũ Ninh.
Trời cho thánh tướng giáng sinh,
Giáng về Phù Đổng ản mình ai hay.
Mới lên ba tuổi thơ ngây,
Thấy vua cầu tướng ngày rày ra quân.
Gọi sứ phán bảo ân cần.
Gươm vàng ngựa sắt đề binh tức thì.
Thánh Vương khi ấy ra uy,
Nửa ngày sấm sét tứ bề giặc tan.
Áo thiêng cởi lại Linh San.
Thoắt đà thoát nợ trần hoàn lên tiên.



Hãy Like Và Share Nếu Bạn Thấy Bài Viết Hữu ích

Sản phẩm bán chạy