Ca dao Chống phong kiến – Thực dân

Tục ngữ Yêu – Ghét
Tục ngữ Yêu – Ghét

Ca dao Chống phong kiến – Thực dân

Tuyển tập Ca dao Chống phong kiến – Thực dân hay nhất, được ông cha ta đúc kết, truyền lại cho các thế hệ sau học tập và noi theo.




Phần 1

Ai lên Vĩnh Thông, bước qua cầu sắt,
Nghe con trẻ hát hiu hắt chiều chiều.
Bên phe quạ nói với diều,
Vĩnh Thông cầu sắt có nhiều xác Tây.
Bể Đông có lúc vơi đầy,
Mối thù đế quốc có ngày nào quên.

Ruộng ta ta cấy ta cày,
Không nhường một bước cho bầy Nhật – Tây
Chúng mày lảng vảng tới đây,
Rủ nhau gậy, cuốc đuổi ngay khỏi làng.

Thóc đâu mà nộp cho Tây,
Nó ăn cho béo, nó đầy đọa ta.
Hỡi này các bạn nông gia,
Bảo nhau đừng nộp thóc ta cho thù.

Đất này đất tổ đất tiên,
Đất này chồng vợ bỏ tiền ra mua.
Bây giờ Nhật, Pháo kéo hùa,
Chiếm trồng đay lạc, ức chưa hỡi trời!

Bao giờ đuổi giặc Nhật, Tây?
Để em được sống những ngày ấm no.
Cực thân em đẩy xe bò.
Cho phường giặc nước ôtô nhà lầu.
Áo em áo chiếu mo cau,
Áo phường giặc cướp rặt màu tơ len.
Ai về nhắn chị cùng em
Có đi giết giặc cho em theo cùng.

Sáu giờ còn ở kinh đô,
Chín giờ xe lửa đã vô cửa Hàn.
Mười giờ bước xuống xà lan,
Bóp bụng mà chịu, nát gan trăm bề.
Bước lên tàu, tàu thổi súplê,
Khoác khăn kéo lại, bảo em về nuôi con.
Đầu hè có buồng chuối non,
Để giành xáo, ghế cho con ăn lần.
Khoai từ, khoai choái, khoai nần,
Còn một vạt bắp trước sân chưa già.
Với hũ sắn lát trong nhà,
Để giành xáo, ghế cho qua tháng ngày.
Bố em ơi!
Ráng mà nuôi con chim chuyền cho biết liệng biết bay,
Mai sau anh có thác, hắn giữ cái ngày tiên linh.

Lỡ lầm vào đất cao su,
Chẳng từ thì cũng như tù chung thân.
Sáng ngày vác cuốc trèo non,
Tối về mới biết mình còn sống đây.
Nhà thương vô có, ra không
Chị đi kiếm chồng, ra bã tha ma.

Cao su xanh tốt lạ đời,
Mỗi cây bón một xác người công nhân.
Cây cao su quý hơn người,
Mỗi khi cây bệnh cây thời nghỉ ngay.
Lang ta cho chí lang Tây,
Đêm đêm lo lắng, ngày ngày chăm nom.
Còn ta đau yếu gầy còm
Đau không được nghỉ, chết hòm cũng không.

Làm thì chẳng kém đàn ông,
Thế mà kém gạo, kém công, kém tiền.
Một ngày hai sáu đồng xu,
Đi sương về mù, khổ lắm ai ơi!

Ông cai ơi hỡi ông cai!
Công tôi làm được đúng hai mươi ngày.
Làm sao mà đến kỳ này,
Công hai mươi ngày hụt mất hào tư.



Phần 2

Thẻ tôi lĩnh có hai đồng,
Ông cai lĩnh hộ, trừ công năm hào.

Đau đẻ cũng phải xúc than,
Đẻ rơi cũng mặc, kêu van cũng lờ.

Lầm than cực khổ thế này
Xúc than, cuốc đất suốt ngày lọ lem.

Ngày ngày nghe tiếng còi tầm,
Như nghe tiếng vọng từ âm phủ về.
Tiếng còi não ruột tái tê,
Bước vào hầm mỏ như lê vào tù.

Cây khô xuống nước cũng khô.
Phận nghèo đi tới chỗ mô cho giàu.
Nhớ chàng tình trước nghĩa sau,
Bỏ thây xứ lạ làm giàu cho ai?
Đồn Tây đãi cát ra vàng,
Nghe ai dụ dỗ mà chàng ra đây?

Càng ngày sưu thuế càng cao,
Mất mùa nên phải lao đao nhọc nhằn.
Xóm làng nhẫn nhịn cắn răng,
Bán đìa nộp thuế cho bằng lòng quan trên.
Quan trên ơi hỡi quan trên,
Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiền mà thôi.

Dậm chân đấm ngực kêu trời,
Vợ chồng chưa mấy năm trời đã xa.
Ngàn trùng xứ lạ xót xa,
Cả đời lính mộ khổ là biết bao.

Chim bay về mỏm Sơm Trà,
Chàng đi lính mộ xa là quá xa.
Sự này bởi tại Lang Sa.
Cho nên đũa ngọc mới xa mâm vàng.

Con cò mà đậu cành tre
Thằng Tây bắn súng cò què một chân.
Hôm sau ra chợ Đồng Xuân,
Chú khách mới hỏi sao chân cò què?
Cò rằng: cò đứng bụi tre,
Thằng Tây bắn súng, cò què một chân.

Sự này bởi tại triều đình,
Đêm nằm nghĩ lại phận mình gian nan.



Phần 3

Kể từ lính mộ ra đi,
Ở nhà nhiều nỗi sầu bi thất tình.

Chuyện đâu có chuyện lạ đời,
Quan đi theo giặc bắt người lành ngay.
Nghìn năm nhớ mãi nhục này,
Theo Tây được thả, đánh Tây bị tù.

Trời cao thăm thẳm đất dày,
Bao giờ lính mộ sang Tây được về.
Vợ con thương nhớ ủ ê,
Biết rằng sang đấy có về được không!
Ai ơi! Đi lính cho Tây,
Con dại cả bầy, bỏ lại ai nuôi?

Ngõ xuống sông Hương, nước xanh như tàu lá,
Ngó về Đập Đá, phố xá nghênh ngang.
Từ ngày Tây lại sứ sang,
Đi xâu nộp thuế, làm đàng không ngơi.

Nhờ ai có lụa có là,
Vợ gọi bằng bà, con gọi cậu cô.
Đến khi giặc Pháp tràn vô,
Quan nhỏ tếch mất, quan to chạy dài.
Ai ơi, có thế chăng ai?

Gáo vàng đem múc miếng xây,
Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta.

Chém cha những đứa sang giàu,
Cậy thần cậy thế cúi đầu nhịn Tây.

Từ ngày Bảo Đại lên ngôi,
Cơm chẳng đầy nồi, cuộc sống co ro.
Hoàng triều Bảo Đại tứ niên,
Đã ba cái lụt, lại liền cái keo.
Xã dân đâu đấy túng nghèo,
Cho nên nghĩ tỉnh phải theo đồn điền.
Ông Tây lắm bạc, nhiều tiền,
Bỏ ra sức giấy mộ liền culi.



Phần 4

Cơm cha cơm mẹ đã từng,
Con đi làm mướn kiếm lưng cơm người.
Cơm người khổ lắm mẹ ơi,
Chả như cơm mẹ vừa ngồi vừa ăn.

Đất lâu, đất lạ đất lùng,
Đai làm lại có thổ công ngờ bờ?
Thổ công không có người thờ,
Cho nên mới phải vẩn vơ ngoài đồng.

Người sao kiệu bạc ngai vàng,
Người sao cuối chợ đầu làng kêu ca?
Người sao đệm thảm chiếu hoa,
Người sao ngồi đất lê la suốt ngày?
Người sao chăn đắp, màn quây.
Người sao trần trụi thân thây bẽ bàng?
Người sao võng giá nghênh ngang,
Người sao đầu đội vai mang nặng nề?
Người sao năm thiếp bảy thê.
Người sao côi cút sớm khuya chịu sầu?
Người sao kẻ quạt người hầu,
Người sao nắng giãi mưa dầu long đong?

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.
Người trên ở chẳng được cao,
Khiến cho kẻ dưới lộn nhào lên trên.

Sang chơi thì cứ mà sang,
Đừng bắt dọn đàng mà nhọc lòng dân.

Em là con gái cửa dinh,
Qua dinh cụ lớn, cụ rình cụ nom.
Của em chẳng để ai dòm,
Cáo già hết ngó, mèo con cũng chừa.

Đánh giặc thì chạy trước tiên,
Xông vào trận tiền cởi khố giặc ra.
Giặc sợ giặc chạy về nhà,
Trở về gọi mẹ mổ gà khao quân.

Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.
Đồn rằng quan tướng có danh,
Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai.
Vua khen rằng đấy mới tài,
Ban cho cái áo với hai đồng tiền.

Cậu cai buông áo em ra,
Để em đi chợ kẻo mà chợ trưa.
Chợ trưa rau nó héo đi,
Lấy gì nuôi mẹ, lấy gì nuôi con.

Em là con gái đồng trinh,
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.
Ông Nghè sai lính ra ve,
Trăm lạy ông Nghè, tôi đã có con.
Có con thì mặc có con,
Thắt lưng cho giòn mà lấy chồng quan.



Phần 5

Trời mưa cho lúa thêm bông,
Cho nước thêm cá, cho sông thêm thuyền.
Cho dù, cho lọng gãy then,
Cho võng, cho cáng một phen nhuộm bùn.

Tậu voi chung với Đức ông,
Vừa phải đánh cồng, vừa phải hốt phân.

Con ơi! Nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình,
Ba bộ đồng tình, bóp vú con tôi.

Con quan đô đốc đô đài,
Lấy thằng thuyền chài cũng phải lụy mui.

Ra đường mắt mải nhìn quanh,
Để chân em vấp đổ thành nhà vua.

Con vua thì lại làm vua,
Con sãi ở chùa, thì quét lá đa.
Bao giờ dân nổi can qua,
Con vua thất thế lại ra ở chùa.

Thương nàng đã đến tháng sinh,
Ăn ở một mình trông cậy vào ai?
Rồi khi sinh gái sinh trai,
Sớm khuya mưa nắng lấy ai bạn cùng?
Sinh gái thì em gả chồng,
Sinh trai lấy vợ mặc lòng thiếp (em) lo.

Nhà vua bắt lính đàn ông,
Mười sáu tuổi rưỡi đứng trong công đường.
Ai trông thấy lính chả thương,
Đừng trong công đường nước mắt như mưa.

Chém cha cái giặc, chết hoang,
Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng.
Gánh từ xứ Bắc, xứ Đông,
Đã gánh theo chồng lại gánh theo con.



Phần 6

Miệng ăn măng trúc măng mai,
Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng?

Ba năm trấn thủ lưu đồn,
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,
Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai!

Tùng tùng trống đánh ngũ liên,
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.

Lính vua, lính chúa, lính làng,
Nhà vua bắt lính cho chàng phải ra.
Giá vua bắt lính đàn bà,
Để em đi đỡ anh vài bốn năm.
Bởi vua bắt lính đàn ông,
Tiền lưng gạo bị, sắm trong nhà này.
Trời ơi, sinh giặc làm chi!
Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường.
Ngang lưng thì thắt bao vàng,
Đầu đội nón dấu, vai mang súng dài.
Một tay thì cắp hỏa mai,
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền.

Ngày đi trúc chửa mọc măng,
Ngày về trúc đã cao bằng ngọn tre.
Ngày đi lúa chửa chia vè,
Ngày về lúa đã đỏ hoe đầy đồng.
Ngày đi em chửa có chồng,
Ngày về em đã con bồng con mang.

Con vua thì lại làm vua,
Con nhà kẻ khó, bắt cua tối ngày.
Con quan thì lại làm quan,
Con nhà kẻ khó đốt than cả ngày.

Em tôi vừa chẵn đôi mươi,
Tôi đùa “Con út có người yêu chưa?”
Nó rằng: “Anh thiệt là xưa
Nếu còn giặc Mỹ em chưa kia mà…”.
Má tôi nghe nói cười xòa:
“Rể tao phải là chiến sĩ Khe Sanh”.
Nó cười mắt sáng long lanh:
“Chọn rể tài tình nhất má đó nghe!”.

Mù u ba thứ mù u,
Lính ta thì tình nguyện, chớ lính thù ta chẳng đi.

Đứng trên cầu Cấm em thề:
Chưa xong nhiệm vụ chưa về quê hương.

Sầu riêng ai khéo đặt tên,
Ai sầu không biết, riêng em không sầu!
Mỹ phun thuốc độc năm nào,
Sầu riêng rụng lá tưởng đâu chết rồi.
Hiên ngang cây đứng giữa trời,
Một cành lá rụng, vạn chồi mọc lên.
Đất dày, rễ bám sâu thêm.
Bão lớn chẳng chuyển, bom lềnh chẳng rung.
Đất trời Nam Bộ mênh mông
Người không khuất phục, cây không úa sầu.



Phần 7

Đường xa, chân bước, tai nghe.
Tin vui chiến thắng đưa về khắp nơi.

Chị em đã quyết chẳng chùn,
Hai vai áo ướt chân bùn đường trơn.
Đường trơn thì mặc đường trơn,
Em gánh thóc thuế chẳng sờn hai vai.
Trời mưa cho ướt lá khoai.
Thóc em không ướt vì ngoài lá che.

Bắc Nam là con một nhà.
Là gà một mẹ, là hoa một cành.
Nguyện cùng biển thẳm non xanh,
Thương nhau nuôi chí đấu tranh cho bền.

Ngọn núi Truồi vừa cao, vừa dựng,
Lòng người Thừa Thiên vừa cứng, vừa dai.
Dù cho nắng sớm mưa mai.
Sóng dồn gió dập, vẫn tranh đấu
cho Nam Bắc, trong ngoài gặp nhau.

Đập đoàng Tây bắn ca nông,
Vườn rau ta trồng, ta cứ trồng thêm.
Đập đoàng Tây bắn vang rền
Đồng bào, bộ đội cày thêm cứ cày.

Ai qua phố phủ Đoan Hùng,
Hẳn rừng còn nhớ voi gầm sông Lô.
Rừng xnh khói lửa mịt mù.
Nước sông đỏ máu quân thù chưa phai.
Luyện quân voi luyện cho tài
Lập công voi xé một vài ca nô.
Dòng sông nước đục lờ đờ
Bên kia bãi cát: nấm mồ thực dân!

Mồ hôi đổ xuống ruộng bờ,
Mới thành hạt lúa đổ kho lần này.
Chiến trường bộ đội diệt Tây
Hậu phương xin giữ cho đầy lúa thơm.

Tiền phương bộ đội thi đua,
Đánh cho giặc Pháp chạy thua rụng rời.
Hậu phương đóng thuế kịp thời
Làm cho giặc chết gấp mười gấp trăm.

Lẻ loi như cụm núi Sầm,
Thản nhiên như mặt nước đầm Ô Loan.
Từ ngày giặc Mỹ kéo sang.
Núi Sầm lửa dậy, Ô Loan sóng trào.
Quê mình tay súng tay dao.
Đầm sâu làm huyệt, núi cao làm mồ,
Vùi thây Mỹ Ngụy côn đồ.
Chôn mưu thâm độc, diệt trò gian ngoan.
Chừng nào Mỹ bại Ngụy tan.
Núi Sầm tươi mát, Ô Loan êm đềm.

Về đi, sống với ruộng vườn,
Vồng khoai, nương sắn, xanh rờn chè tươi.
Tội gì theo giặc, anh ơi!
Ngàn năm bia miệng, người đời cười chê.



Phân 8

Ai ơi, chớ dại chớ lầm,
Lương tâm bán rẻ, đi cầm súng Tây.
Máu người thân vấy đầy tay,
Hại dân hại nước, tội này ai tha?

Đò ai chở khách lấy tiền,
Đò tôi chở gạo đi lên kịp ngày.
Gạo lên tiền tuyến giết Tây
Nước to, sóng cả đò đây vẫn chèo.

Trên trời có đám mây vàng
Em đi tiếp vận cho chàng giết Tây.
Thằng Tây tiếp tế máy bay,
Không bằng tiếp vận chân tay chúng mình.
Một năm chín tháng dưới hầm
Mặc da xanh ủng, mặc cằm đầy râu.
Hết nằm bãi sậy, rừng lau,
Lại nằm bụi dứa hầm sâu quanh nhà.
Mười đồn ta quét còn ba.
Sờ cằm cứ ngỡ tuổi già năm mươi.
Ba đồn quét gọn một hơi
Soi gương lại thấy tuổi hai mươi về.

Bên sông thưa thớt tiếng gà,
Mây trôi xuống biển, trăng tà về tây.
Đò em đợi bến sông này,
Đưa đoàn chiến sĩ đêm nay lên đường.
Đò em chở bạn tình thương,
Chở lòng yêu nước can trường qua sông.
Xôn xao tiếng giục xuống thuyền
Chen vai sát cánh ngồi bên mạn thuyền.
Trăng lên in bóng gương treo.
Dưới dòng nước chảy như theo đoàn người.

Thằng Tây cậy có máy bay,
Ta có phép này bịt mắt mày đây.
Ngụy trang ta lấy cành cây,
Gài cho thật kín, đố mày biết tao.

Nằm trong bụi rậm chờ Tây,
Có con chim nhỏ đậu ngay trước nòng.
Chim xòe cánh nhỏ rỉa lông.
Líu lo chim hót vừa trong vừa lành.
Chim ơi! Giặc đến đã gần,
Bay đi kẻo nữa súng gầm nơi đây.
Mai ngày tạnh gió quang mây.
Đậu đâu tùy mày, ta chẳng can đâu.

Ra công trồng một vườn cà,
Cà đen muối mặn cả nhà ăn chung.
Vịt gà nuôi béo nhốt lồng.
Chờ anh bộ đội lập công trở về.

Thằng Tây chớ cậy xác dài,
Chúng tao người nhỏ nhưng dai hơn mày
Thằng Tây chớ cậy béo quay,
Mày thức hai buổi là mày dở hơi!
Chúng tao thức bốn đêm rồi,
Ăn cháo ba bữa, chạy mười chín cây.
Bây giờ mơi gặp mày đây,
Sức tao vẫn đủ bắt mày hàng tao!

Lỡ lầm vào đất cao su,
Chẳng tù thì cũng như tù chung thân.

Trập trùng bước thấp bước cao,
Đường xa dặm thẳm biết bao nhọc nhằn.
Trên vai đạn mấy mươi cân,
Mang đi bắn nát đầu quân bạo tàn.



Phần 9

Bao giờ hết cỏ Tháp Mười,
Thì dân ta mới hết người đánh Tây.

Xa xa Côn Đảo nhà tù,
Biển sâu mấy khúc, lòng thù bấy nhiêu.

Nghèo thì ăn sắn ăn khoai,
Ai ơi, đừng có theo loài Việt gian.

Chém cha lũ Nhật côn đồ!
Bắt người cướp của, tha hồ thẳng tay.
Dân ta trăm đắng ngàn cay,
Thóc ăn chẳng có trồng đay cho người!

Cao su đi dễ khó về,
Khi đi mất vợ khi về mất con.
Cao su đi dễ khó về,
Khi đi trai trẻ, khi về bủng beo.

Cái thằng Tây nó ác quá.
Nó đánh, nó đá, nó cưỡng hiếp, chửi mắng lôi thôi.
Trở về nương rẫy đi thôi,
Làm than khổ lắm, đấm buồi làm than!

Chớ tham đồng bạc con cò,
Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa.

Bể Đông có lúc vơi đầy,
Mối thù đế quốc, có ngày nào quên!

Ruộng ta ta cấy, ta cày,
Không nhường một tấc cho bầy Nhật, Tây.
Chúng mày lảng vảng tới đây,
Rủ nhau gậy cuốc, đuổi ngay khỏi làng.

Từ ngày Cảnh Trị lên ngôi,
Khoai chửa mọc chồi đã nhổ lên ăn.
Nên ra trên kính dưới nhường
Chẳng nên đạp tắt bên đường mà đi.



Phần 10

Từ ngày Tự Đức lên ngôi,
Cơm chẳng đầy nồi trẻ khóc như ri.
Bao giờ Tự Đức chết đi,
Thiên hạ bình thì lại dễ làm ăn.

Đàn ông quan tắt thì chầy
Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan.

Bớt đồng thì bớt cù lao,
Bớt ăn bớt uống thì tao bớt làm.

Có ăn vất vả đã cam,
Không ăn ta nghỉ, ta làm làm chi.

Làm thì chẳng muốn bằng ai,
Ăn thì thứ nhất, thứ hai trong làng.

Người trên ở chẳng chính ngôi,
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.

Sông Hương nước chảy lờ đờ,
Dưới sông có đĩ, trên bờ có vua.

Chừng nào thằng ngốc làm vua,
Thiên hạ mất mùa, người khó làm ăn.

Trông lên cửu bệ trùng trùng,
Những là gấm vóc tía hồng nguy nga.
Nhìn về đồng ruộng bao la,
Cùng đinh đóng khố phơi da mình trần.

Vạn niên là Vạn niên nào?
Thành xây xương lính, hào đào máu dân.



Phần 11

Đẻ đứa con trai,
Chẳng biết nó giống ai.
Cái mặt thì giống ông cai,
Cái đầu ông xã, cái tai ông trùm.

Khi sang mẹ nó cho sang,
Bây giờ quan cấm đò ngang, không chèo.

Ban ngày quan lớn như thần,
Ban đêm quan lớn tần mần như ma.

Thuyền than lại đậu bến than,
Gặp cô yếm thắm, ôm quàng ngang lưng.
Thôi thôi, tôi van cậu rằng đừng
Tuổi tôi còn bé chưa từng nguyệt hoa.
Tôi về gọi chị tôi ra,
Chị tôi đã lớn, nguyệt hoa đã từng.

Cậu cai nói dấu lông gà,
Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.
Ba năm được một chuyến sai,
Áo ngắn đi mượn, quần dài đi thuê.

Tháng tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng,
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.

Trời mưa cho ướt lá bầu
Anh làm lính lệ đi hầu ông quan.
Thương người mũ bạc, dát vàng,
Đem thân mà đội mâm cam cho đành.

Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh binh, thống chế, tam dinh một đồng.

Nhà bay chết lợn, toi gà,
Năm ba ông cống đến nhà ngày mưa.

Quan văn mất một đồng tiền
Xem bằng quan võ mất quyền quận công.



Phần 12

Lúc thì chả có một ai,
Lúc thì ông xã, ông cai đầy nhà.

Thừa quan rồi mới đến dân
Thừa nha môn, mới đến phần đò đưa.

Quan có cần nhưng dân chưa vội,
Quan có vội, quan lội quan sang.

Đã giàu thì lại giàu thêm,
Đã khó lại khó cả đêm lẫn ngày.

Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra bóc trần, ai cũng như ai.

Cái cò mày mổ cái tôm,
Cái tôm quặp lại, lại ôm cái cò.
Cái cò, mày mổ cái trai
Cái trai quặp lại, lại nhai cái cò.

Con lành con ở cùng bà,
Vắng mình sốt mẩy, con ra ngoài đường.

Cái cò, cái vạc cái nông,
Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?
Không! Không! Tôi đứng trên bờ,
Mẹ con cái vạc, đổ ngờ cho tôi.
Chẳng tin thì ông đi đôi,
Mẹ con nhà nó còn ngồ đây kia.

Ra đường võng giá nghênh ngang,
Về nhà hỏi vợ: “Cám rang đâu mày?”.
Cám rang tôi để cối xay,
Hễ chó ăn mất thì “mày với ông!”




 

Hãy Like Và Share Nếu Bạn Thấy Bài Viết Hữu ích

Sản phẩm bán chạy